Xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia: Chặng đường sau 21 năm nhìn lại

25/04/2019 (GMT+7)

Xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được phát động từ năm 1996, Hải Phòng triển khai năm 1998. Sau 21 năm, ngành Giáo dục Hải Phòng đã đạt được thành tựu rất đáng ghi nhận.

I. Những kết quả đạt được

1. Về tổ chức nhà trường: Các tổ chức trong nhà trường được kiện toàn đầy đủ, 100% trường có đầy đủ chi bộ Đảng, hoặc Đảng bộ, có tổ chức Công đoàn và các đoàn thể. Các tổ chức trong nhà trường hoạt động tích cực dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Đảng bộ nhằm thúc đẩy sự phát triển của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

2. Về xây dựng đội ngũ: Xác định đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên là nhân tố quyết  định để xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu cho HĐND thành phố ban hành nghị quyết về cơ chế chính sách để hỗ trợ cho giáo viên ngoài biên chế; nghị quyết về chuyển đổi các trường bán công sang công lập để tăng giáo viên trong biên chế nhà nước, tạo điều kiện cho giáo viên yên tâm công tác.

Từ chỗ giáo viên các trường học thiếu về số lượng, chưa đồng bộ về cơ cấu, qua nhiều năm thực hiện nhiệm vụ giáo dục nói chung và xây dựng trường học đạt chuẩn nói riêng, số lượng giáo viên của các cấp học được tăng cường cơ bản đủ và đảm bảo chất lượng. Giáo viên mầm non từ chỗ chỉ đạt tỷ lệ 1,3 giáo viên/ lớp, đến nay hầu hết các trường đều có tỷ lệ 2 giáo viên/lớp trở lên. Giáo viên tiểu học từ chỗ không đủ 1 giáo viên trên lớp dạy các môn học, đến nay số giáo viên các trường dạy 2 buổi/ngày được bố trí đủ 1,5 giáo viên trên lớp, ngoài ra còn có các giáo viên dạy các môn năng khiếu. Cấp trung học những năm học trước giáo viên phải dạy kiêm nhiệm nhiều môn do thiếu biên chế, thì nay số giáo viên đã đủ định biên theo tỷ lệ 1,9 giáo viên/lớp đối với THCS và 2,25 giáo viên/lớp đối với THPT. Ngoài ra, cán bộ quản lý, đội ngũ nhân viên được bố trí đúng yêu cầu hạng trường để thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ giáo dục đào tạo trong các nhà trường.

Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thường xuyên được toàn ngành quan tâm đầu tư và đạt hiệu quả ngày càng cao.

Về trình độ chuyên môn: 100% cán bộ, giáo viên đạt chuẩn, tỷ lệ trên chuẩn: Mầm non 69%; tiểu học 87,3%, THCS 88,7% và THPT 23,8%

Cán bộ quản lý các đơn vị trường học năng động, sáng tạo và đầy trách nhiệm trong quá trình chỉ đạo hoạt động dạy học trong nhà trường nói chung và thực hiện các nội dung xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia nói riêng. Đây là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của việc xây dựng trường chuẩn của từng đơn vị. Bởi họ là những người xây dựng lộ trình, xây dựng đề án, tham mưu đầu tư, huy động nguồn lực. Nhiều đồng chí Trưởng Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng tâm huyết bao nhiêu năm gắn bó với phong trào, trăn trở tìm nhiều giải pháp để chỉ đạo nhà trường xây dựng các điều kiện đạt chuẩn như các đồng chí: Bùi Thế Hiệp - Trưởng Phòng GD&ĐT huyện Thủy Nguyên; Phạm Sỹ Tuyên - Trưởng Phòng GD&ĐT quận Hải An; Nguyễn Thị Thu Hương - Hiệu trưởng trường THCS Lê Hồng Phong quận Ngô Quyền; Nguyễn Văn Tiệp - Hiệu trưởng trường THCS Hải Thành quận Dương Kinh; Trần Thị Kim Thanh - Hiệu trưởng trường tiểu học Trần Văn Ơn quận Hồng Bàng….

Đội ngũ giáo viên không ngừng sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, nhận thức rõ phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; thực hiện việc chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, chăm lo bồi dưỡng nhân cách, đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh, đổi mới các hoạt động giáo dục, gắn bó với nghề nghiệp,. gắn bó với địa phương trong thực hiện nhiệm vụ của ngành.

3. Chất lượng hiệu quả giáo dục

Cho đến nay, quan điểm dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh được thực hiện một cách triệt để; lối dạy học một chiều, thuyết giảng, thiên về cung cấp kiến thức đã được thay bằng cách dạy học hướng dẫn người học chủ động thực hiện các hoạt động chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng kiến thức.

Việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy học đạt kết quả tốt. Chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng giáo dục mũi nhọn tiếp tục có những chuyển biến rõ nét và vững chắc ở các cấp học; có nhiều mô hình và giải pháp đặc thù nâng cao chất lượng giáo dục.

Song song với việc đẩy mạnh phong trào dạy tốt, học tốt, lãnh đạo các đơn vị đã chỉ đạo và tổ chức linh hoạt, sáng tạo nhiều nội dung giáo dục như: Giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên biển đảo… cho học sinh thông qua tích hợp trong quá trình giảng dạy các môn văn hóa, trong hoạt động giáo dục ngoài giờ, lên lớp. Ý thức và kỹ năng của học sinh ngày càng chuyển biến tích cực. Học sinh không còn rụt rè, thụ động mà nhạy bén, chủ động thực hiện các hoạt động và đặc biệt tự tin bày tỏ quan điểm thái độ và tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Các hoạt động văn nghệ, thể thao và các hội thi tìm hiểu, giao lưu được tổ chức lồng ghép với các hoạt động giáo dục đem lại hiệu qủa cao. Nội dung xây dựng văn hóa học đường được ngành triển khai đồng bộ và đem lại hiệu quả khá toàn diện, môi trường dạy học ngày càng thân thiện, ý thức trách nhiệm với nhà trường với cộng đồng ngày càng được nâng lên, sinh hoạt trong nhà trường ngày càng được đổi mới, quan hệ thày trò, bè bạn đúng mực và tôn trọng. Công tác đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới thi được thực hiện nghiêm túc đạt kết quả cao, cụ thể.

4. Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.

Sở Giáo dục và Đào tạo đã cùng với các quận huyện, Sở, ngành liên quan kiểm tra, rà soát lại điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị của các trường học trên địa bàn thành phố, căn cứ quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về quy định trường mầm non; trường tiểu học; trường trung học đạt chuẩn quốc gia, tham mưu cho thành phố hỗ trợ kinh phí cho các trường để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Đến nay, toàn thành phố đã mở rộng thêm diện tích trường học được hơn 100 ha để các trường có đủ diện tích theo quy định; đầu tư kinh phí ước đat hơn 10.000 tỷ đồng đầu tư xây dựng phòng học , phòng chức năng và mua sắm trang thiết bị, ngoài ra, các quận, huyện bằng nguồn kinh phí của địa phưng cũng đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cùng với sự đóng góp của xã hội để cải tạo, xây thêm nhiều phòng học, phòng chức năng, phòng hiệu bộ, các công trình phụ trợ (bếp ăn bán trú, cổng, tường rào, nhà để xe, nhà vệ sinh cho giáo viên và học sinh…)

Cơ sở vật chất trường học từ chỗ học sinh mầm non không có bán trú, số cháu được học 2 buổi/ngày những năm 1998 - 1999 chỉ có 30% - 35% thì đến nay, 100% các cháu của tất cả các trường được học 2 buổi/ngày, được ở lại bán trú và được hưởng các chế độ chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo chương trình giáo dục mầm non mới, 85%  học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày, từ chỗ  chỉ học văn hóa, đến nay đã được học thêm các môn tự chọn, kỹ năng sống và ngoại ngữ, các trường THCS và THPT đã được đầu tư xây dựng thêm các phòng học chức năng, phòng học bộ môn để học theo phân ban, được tăng cường giáo dục kỹ năng sống…

Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học của các cấp được đầu tư có hiệu quả như: Đồ dùng, đồ chơi, máy Projector, máy tính xách tay, máy in, máy Pho to copy, nhiều trường có hai phòng vi tính đầu tư từ  25-30 máy/phòng. Phòng dạy ngoại ngữ được trang bị đủ thiết bị chuyên dụng phục vụ tốt việc thực hành 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc viết), phòng thực hành thí nghiệm các môn Sinh học, Vật lý, Hóa học… phòng học bộ môn riêng với các thiết bị đáp ứng việc học tập và nghiên cứu của thày và trò. Phong trào tự làm đồ dùng dạy học cũng đã góp phần không nhỏ vào việc làm phong phú thêm thiết bị dạy học của các nhà trường. Đặc biệt là giáo dục mầm non. Cho đến nay bằng nguồn ngân sách của thành phố và các địa phương, số trường mầm non đã được bổ sung thêm đồ dùng, đồ chơi (trong nhà, ngoài sân), thiết bị dạy học tối thiểu đạt 93,7; 85 % trường tiểu học có phòng máy vi tính; 27% trường có phòng học ngoại ngữ (có thiết bị chuyên dụng); 72,6% trường có thư viện đạt chuẩn đạt,100% trường THCS và THPT  có phòng máy vi tính trong đó có 65% trường có 2 phòng (từ 25-30 máy/phòng), đầu tư thiết bị cơ bản cho 245 phòng thực hành thí nghiệm Lý-Hóa-Sinh và 74 phòng học ngoại ngữ (có thiết bị chuyên dụng) và nhiều bộ thiết bị dạy học theo danh mục của Bộ Giáo dục và Đào tạo… Các cấp ủy Đảng, chính quyền quận, huyện, xã, phường đã tăng cường diện tích đát cho trường học như huyện Thủy Nguyên, Cát Hải, Vĩnh Bảo...

Kết quả chung (Tính đến hết năm 2018)

Số trường đạt chuẩn quốc gia của toàn thành phố là 369/813 trường, chiếm 45,4%, trong đó:

- Cấp THPT: 14/60 trường đạt 23,3%

- Cấp THCS: 99/198 trường đạt 50%

- Cấp tiểu học: 153/218 trường đạt 70,2 (06 trường đạt mức độ 2)

- Cấp mầm non: 103/337 trường đạt 30,5% (09 trường đạt mức độ 2)

 II. Phương hướng xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2019 – 2025, định hướng đến năm 2030

1. Mục tiêu chung

Củng cố, giữ vững những trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia, đồng thời quan tâm, thúc đẩy nâng chuẩn ở các trường có điều kiện. Phấn đấu hằng năm, thành phố có thêm từ 20 - 25 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 05 - 08 trường đạt chuẩn mức độ 2.

- Các địa phương tiếp tục rà soát, tự tổ chức kiểm tra đánh giá hiện trạng các đơn vị trường học theo từng tiêu chí được quy định tại các Thông tư số: 17/2018 ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học; Thông tư số 18/2018 ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học; Thông tư số 19/2018 ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non. Lập kế hoạch, đưa vào lộ trình xây dựng trường chuẩn quốc gia hằng năm đối với các trường xây dựng đạt chuẩn và phấn đấu hoàn thành các tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Phấn đấu mỗi năm học duy trì các trường đã đạt chuẩn ở các mức độ, phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia với từng cấp học, cụ thể:

-  Đến năm 2020:  

MN: 35%; TH: 75%; THCS: 60%; THPT: 30%

- Đến năm 2025:

MN: 45%; TH: 85%; THCS: 70%; THPT: 40%.

V.V.T