Kỹ sư Trịnh Thị Kim Anh: Người được nhận Giải thưởng Khoa học Nguyễn Bỉnh Khiêm

25/03/2019 (GMT+7)

Trong đợt trao giải thưởng khoa học lần thứ 6 (2016) của thành phố Hải Phòng, công trình nghiên cứu “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn theo VietGAP” của kỹ sư Trịnh Thị Kim Anh là một trong ba công trình được nhận giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đây là lần đầu tiên một cán bộ khoa học nữ thuộc ngành nông nghiệp được ghi nhận và tôn vinh có cống hiến đặc biệt xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

Tất cả thông tin trên, hấp dẫn thôi thúc tôi tìm về gặp bà tại nhà riêng ở khu đô thị An Đồng.

Năm nay đã vào tuổi xấp xỉ lục tuần (bà sinh năm 1958) nhưng nữ kỹ sư vẫn còn rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Khuôn mặt phúc hậu, nước da bánh mật in dấu những tháng ngày dầm mưa dãi nắng cùng bà con nông dân trên khắp các cánh đồng vùng quê ngoại thành. Giọng nói sôi nổi, cử chỉ giao tiếp thân tình, khi tiếp xúc, tôi có cảm nhận ở bà vừa có sự lịch lãm của một trí thức lại vừa đậm vẻ chân chất, mộc mạc của người nông dân gốc Thái Bình - quê hương 5 tấn.

- Tôi đã đọc công trình của chị - Tôi lựa cách xưng hô để tạo sự thân mật trong cuộc trò chuyện - Phải nói rất đáng nể, đáng phục. Công trình vừa giàu tính khoa học vừa có tính thực tiễn cao, đề xuất và giải quyết nhiều vấn đề đang được cả xã hội quan tâm như an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, tìm đầu ra cho nông sản, tăng thu nhập cho nông dân... Để làm được điều ấy, nhóm tác giả công trình do chị làm chủ nhiệm đã phải nghiên cứu nhiều lĩnh vực như kỹ thuật, quản lý kinh tế, tổ chức sản xuất, thị trường... Chỉ riêng về kỹ thuật đã tiến hành hàng chục thí nghiệm về giống, phân bón, bảo vệ thực vật, canh tác, sơ chể, bảo quản... Mỗi thí nghiệm lại phải cân đong, đo, đếm hàng trăm chỉ tiêu, rồi tính toán, so sánh để tìm ra giải pháp tối ưu... Quả là một khối lượng công việc khổng lồ, lại tiến hành liên tục trong suốt hơn hai năm trên diện tích tới 10,8 ha, làm ra khối lượng sản phẩm tới trên 300 tấn! Tôi cũng đã hình dung ra biết bao vất vả, cực nhọc mà chị và các cộng sự đã trải qua. Vậy chị suy nghĩ thế nào và từ động lực nào để tạo sức mạnh giúp chị vượt qua được những khó khăn ấy?

Bà trả lời rất tự nhiên, chân thật:

- Cũng chẳng có gì cao siêu, ghê gớm lắm đâu anh ạ. Việc tôi làm xuất phát từ yêu cầu cuộc sống đang diễn ra hàng ngày quanh ta thôi. Ấy là cách đây mấy năm hẳn anh còn nhớ, các chương trình truyền hình liên tiếp đưa tin về các vụ ngộ độc thực phẩm. Cảnh bệnh nhân nằm trong khoa cấp cứu, ngồi cạnh giường là những người mẹ, người vợ ánh mắt lo âu. Một hôm tôi đọc báo Hải Phòng bắt gặp con số đến giật mình: Kết quả điều tra của Chi cục Bảo vệ thực vật có 35% số người mua thuốc trừ sâu bệnh không xem nhãn mác, nghĩa là không cần biết thuốc ấy có được phép dùng không; có tới 90% số hộ nông dân dùng thuốc bảo vệ thực vật theo cảm tính, nghĩa là không biết thuốc ấy sử dụng thế nào, nếu phun cho rau chẳng hạn, thì thời gian cách ly bao nhiêu mới được thu hoạch... Theo Sở Tài nguyên Môi trường, do nông dân dùng thuốc bảo vệ thực vật liều lương quá cao nên trên đất nông nghiệp của thành phố còn tồn dư tới hàng trăm tấn thuốc trong đất và nước. Thật là con số khủng khiếp!. Có lẽ vì thế mà trên diễn đàn Quốc hội một vị đại biểu đã phải kêu lên: “Chưa bao giờ con đường từ bàn ăn đến nghĩa trang lại ngắn như bây giờ...”

Một lần đi công tác về một vùng quê, ra đồng, tôi gặp mấy bà nông dân nét mặt buồn rười rượi vừa thu hoạch cải bắp, cà chua vừa phàn nàn: “Suốt mấy tháng trời bán mặt cho đất, bán lưng cho trời giờ mới được cây cải, cân cà đem bán giá 1 nghìn 1 cân, vừa bằng tiền mua 1 chén nước chè mà cũng chẳng ai mua. Cơ đận này lấy tiền đâu nuôi con ăn học. Chẳng may ốm đau không tiền đi bệnh viện thì chỉ còn cách cam lòng nằm nhà chờ chết mà thôi...

Những cảnh tình ấy tác động vào tâm trí, khiến tôi xót xa đến nao lòng. Tôi sinh ra ở làng quê, củ khoai, hạt thóc nuôi tôi khôn lớn trưởng thành. Tôi còn mắc nợ với cô bác nông dân nhiều lắm. Vậy giờ nắm trong tay chiếc chìa khóa khoa học kỹ thuật tôi phải làm gì để trả nghĩa những người thợ cày, thợ cấy chân lấm tay bùn đang gặp cảnh khốn khó kia? Câu hỏi ấy day dứt, dằn vặt tôi nhiều đêm mất ngủ. Từ đó tôi bàn với các đồng nghiệp đề xuất nghiên cứu công trình và tự nhủ dù gian nan, khó nhọc mấy cũng sẽ quyết tâm hoàn thành...

Chuyện càng nghe càng say. Bà dừng lại cạn chén nước trà sắp giọng rồi tiếp:

- Lúc đầu biết được ý định của tôi cũng có bạn bè can ngăn: “Chỉ còn vài năm nữa nghỉ hưu, tội gì phải húc đầu vào đá cho khổ”. Cũng có người tỏ ra ái ngại: “Công trình quá lớn, thuộc nhiều ngành, đòi hỏi hiểu biết nhiều tri thức thuộc nhiều lĩnh vực, chị chỉ am hiểu một lĩnh vực kỹ thuật kham làm sao nổi”. Nhưng tôi tin ở mình, ở anh em đồng nghiệp, nên quyết theo đuổi ý tưởng đã định.

- Vấn đề rất mới, để có được công trình, chỉ nói riêng về thủ tục cũng phải qua nhiều bước, nhiều cửa, nhiều khâu. Vạn sự khởi đầu nan. Chắc khi mới bắt tay vào, chị không khỏi bỡ ngỡ, lúng túng?

- Đúng. Đối với Hải Phòng đây là vấn đề rất mới. Bởi trước tôi cũng đã có một vài địa phương làm, nhưng cách làm tự phát, diện tích nhỏ, chỉ mới làm từng khâu đơn lẻ trên một vài loại rau. Giờ làm quy mô lớn, theo hệ thống quy trình gắn kết khép kín một cách bài bản cần phải có phương pháp tiếp cận, xác định mục tiêu và giải pháp thực hiện khoa học, tính toán căn cơ...

Sau khi nghe tôi trình bày đề xuất, lãnh đạo hai Sở Khoa học - công nghệ và Nông nghiệp - phát triển nông thôn đều nhất trí đồng tình ủng hộ. Nhưng có chủ trương rồi thì nhiều câu hỏi hóc búa đặt ra với tôi và ban chủ nhiệm công trình: Công việc bắt đầu từ đâu? Trình tự làm thế nào? Làm ở đâu? Lựa chọn ai là đối tác liên kết?...

Tôi và các cộng sự phải dành cả tháng trời đọc tài liệu tham khảo trong và ngoài nước, ra tận Quảng Ninh, lên tận Hà Nội tham quan học tập kinh nghiệm những nơi đã làm và tìm chuyên gia nhờ tư vấn... Ngày đi, đêm nghĩ, hệ thống lại những điều mình đã thu lượm được rồi mới bắt tay viết đề cương, bảo vệ trước Hội đồng khoa học. Công trình được phê duyệt rồi mới bố trí nghiên cứu thí nghiệm. Từ kết quả nghiên cứu mới xây dựng mô hình sản xuất... Cuối cùng tổng kết, đề xuất giải pháp nhân ra diện rộng trên địa bàn thành phố....

- Nghe chị nói đến cuộc hành trình, thú thực là tôi đã phát sốt. Khỏi phải kể đến những gian nan trong từng khâu, từng đoạn, nếu cần nói một cách ngắn gọn cả quãng đường dài từ khởi đầu đi đến kết thúc thì chị thấy cái khó nhất đã gặp là gì?

- Trước hết phải nói thế này: Nghiên cứu khoa học là con đường nhiều gập ghềnh, chông gai, chỉ những ai có lòng đam mê, dũng cảm và bản lĩnh mới dám dấn thân. Một nhà toán học từng nói: “Khoa học không có đường đi cho các bậc đế vương” là có ý này. Hơn 30 năm tham gia nghiên cứu khoa học, tôi rút ra một điều: Nếu làm khoa học mà gặp khó khăn trở ngại thì nên coi đó là đương nhiên, chớ nên hoảng hốt, nản lòng… Phải nghĩ thế để rồi bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt tìm cách vượt qua để đi đến đích. Còn nếu nói khó nhất thì theo tôi có hai điều: Thứ nhất là nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp hay bị rủi ro do thiên nhiên. Công trình của chúng tôi lẽ ra chỉ làm trong hai năm nhưng có một vụ gặp thiên tai. Thế là bao công sức, tiền của mất trắng. Chúng tôi phải tự động viên nhau: “Thua keo này, ta bày keo khác” và phải làm lại từ đầu, kéo dài thêm 6 tháng nữa. Thứ hai là làm thay đổi tập quán sản xuất của người nông dân. Lê nin từng nói đại ý: Đáng sợ thay là thói quen, cuộc đấu tranh xóa bỏ thói quen lạc hậu vô cùng cam go, quyết liệt và rất lâu dài... Đưa cây lúa xuân năng suất cao hơn thay thế cây lúa chiêm là thay đổi tập quán sản xuất nghìn đời. Hải Phòng phải mất 8 năm lúa xuân mới thành vụ chính. Cây rau cũng vậy thôi, nông dân bao đời trồng rau theo nếp làm ăn cũ, giờ đưa quy trình VietGAP tức là “quy trình sản xuất thực hành nông nghiệp tốt” vào là làm thay đổi cả tập quán sản xuất ấy không thể nói là dễ dàng. Nói đơn cử như chỉ một việc sử dụng thuốc sâu bệnh: Trước kia nông dân vẫn quen cứ thấy có sâu là phun... Nay yêu cầu họ không dùng thuốc , hoặc nếu có thì phải dùng chủng loại cụ thể liều lượng thích hợp, phun xong phải cách ly, đúng thời hạn mới được thu hoạch. Lại còn phải có sổ ghi chép tỷ mỉ ngày phun, loại thuốc, liều lượng cách pha chế... Phiền hà rắc rối quá! Thế nên muốn bà con làm theo, đòi hỏi phải quyết tâm kiên trì vận động, thuyết phục...

Trước hết là tự mình phải tạo được sự tín nhiệm, được bà con quý mến. Muốn thế phải có sự chia sẻ, cảm thông với sự nhọc nhằn vất vả  nỗi lo toan của người nông dân. Phải hiểu họ đang nghĩ gì, cần gì. Kể anh nghe chuyện này: Sau một thời gian xuống xã An Thọ gần gũi bà con, một hôm tôi ra ruộng gặp mấy bà đang hái rau đem bán, mới hỏi ướm thử: xin mấy mớ. Các bà bảo: “Ai chứ cô Kim Anh thì xin gì, xin bao nhiêu cũng cho”. Tôi nghĩ thầm, thế là được rồi đấy. Nhưng thế vẫn chưa đủ, vận động phải có lý lẽ và sức thuyết phục. Tôi quan sát trên đồng thấy hiện tượng này: Các hộ trồng rau đều dành vài luống không phun thuốc để nhà ăn, còn các luống khác có phun thuốc hái đem bán. Hôm sau ở lớp tập huấn, tôi nói ngay: “Các bác đừng lầm tưởng làm thế đã an toàn. Rau các bán ra chợ, nhà hàng mua về lại nấu cho chính con cháu các bác đang làm công nhân cho các xí nghiệp ăn đấy. Vả lại, khi phun thuốc, các bác hít phải hơi độc, và thuốc tiếp xúc với da, nhiễm vào người, ấy là chưa kể số thuốc dư thừa thấm vào đất, hòa vào nước mương, nước sông rồi qua hệ thống nước “sạch” cho ta dùng hằng ngày gây bao bệnh tật, hiểm họa khôn lường...”. Tôi liếc xuống hội trường thấy mấy ông nông dân ngồi rung đùi, gật gù: “Nói có lý”.

Tôi cười thích thú. Hóa ra nữ kỹ sư này còn là người làm công tác dân vận có hạng. 

- Hỏi thật chị, lâu nay không ít lời phàn nàn nhiều công trình đề tài nghiên cứu nghiệm thu, nhận thưởng xong rồi xếp vào ngăn tủ, không ứng dụng vào thực tế được, đồng nghĩa là không có hiệu quả. Liệu công trình của chị có cùng chung số phận?

- Nói để anh mừng, sau khi tôi làm được mô hình, nhiều đoàn các tỉnh lân cận đã đến tham quan, có một số tỉnh xa như Nghệ An, Thanh Hóa. Còn ở Hải Phòng các doanh nghiệp, trang trại, hộ nông dân các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, các quận Dương Kinh, Đồ Sơn... đã làm theo và đang phát triển ra diện rộng. Sản phẩm qua phân tích kiểm tra các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn sử dụng trong nước và xuất khẩu. Nhiều trường học mầm non đã ký hợp đồng cung cấp định kỳ... Bà con nông dân phấn khởi yên tâm sản xuất vì thu nhập tăng 15% và điều quan trọng nhất là đã có đầu ra...

Ông Vinh, chồng bà pha cà phê mời khách, ngồi góp đôi câu chuyện rồi ý tứ đứng dậy ra tưới mấy chậu hoa trước nhà. Tôi nhìn một lượt khắp căn phòng xinh xắn: Mọi đồ vật đều được xắp đặt gọn gàng, ngăn nắp, chợt nghĩ về một bàn tay đảm đang rồi hỏi tò mò:

- Cùng với công tác xã hội, người phụ nữ còn có thiên chức là quán xuyến gia đình, nội trợ, chăm sóc con cái... Áp lực công việc rất lớn, chị đi tối ngày, liệu có làm tròn thiên chức ấy?

Chị cười, giọng dịu dàng:

- Giới văn sĩ các anh có một câu tôi rất thích. Gì nhỉ? À, “Một nửa vầng trăng”. Tôi đi suốt, kể cả ngày lễ chủ nhật cũng không mấy khi được nghỉ, lại hay đi sớm về muộn. Được cái, ông xã tôi luôn cảm thông, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi công tác. Từ ngày nghỉ hưu, anh ấy lo liệu phần lớn việc nhà. Mà này, tuy là kỹ sư kinh tế nhưng ông xã tôi còn là người nội trợ, đầu bếp bậc cao nữa đấy! Tôi vẫn nghĩ, trong các danh hiệu phần thưởng mình nhận, có công anh góp rất lớn... Tôi lại nhớ, gần 30 năm tham gia nghiên cứu khoa học, trước khi nhận giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà từng được nhận nhiều giải thưởng và danh hiệu cao quý: Bằng Lao động sáng tạo của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (năm 2007); Giải thưởng Lê Chân (năm 2007); 3 lần chiến sĩ thi đua cấp ngành và 2 lần chiến sĩ thi đua cấp thành phố (năm 2007 và 2012); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ…

Ông bà có hai người con, một trai, một gái. Các cháu học hành giỏi giang, đều đã tốt nghiệp đại học và đi làm ở hai doanh nghiệp. Cuộc sống gia đình tuy không giàu sang nhưng đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần. Tôi mừng cho ông bà.

Chia tay bà, đọng lại trong tôi là ấn tượng sâu sắc về một cán bộ khoa học có trình độ, giàu nghị lực, bản lĩnh và một cán bộ Công đoàn đầy nhiệt huyết và dày dạn kinh nghiệm. Phải, hai yếu tố ấy hòa quyện vào nhau trong một con người, bổ sung cho nhau làm nên công trình khoa học đặc biệt xuất sắc, giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm./.

Đinh Quyền