Đôi điều bàn thêm về cuốn sách nguồn gốc, ý nghĩa địa danh làng xã huyện Tiên Lãng

25/04/2019 (GMT+7)

Năm 2017 Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Tiên Lãng cho ra mắt bạn đọc cuốn “Nguồn gốc, ý nghĩa địa danh làng xã huyện Tiên Lãng”. Sách dày 238 trang (khổ 15x20), nội dung phong phú, bố cục chặt chẽ, cách viết ngắn gọn, xúc tích, cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cơ bản về “nguồn gốc, ý nghĩa” tên gọi của 23 xã, 204 thôn/làng, qua đó thêm tự hào về lịch sử truyền thống một vùng quê giầu truyền thống lịch sử, văn hóa.

Cũng như ở các địa phương khác, địa danh làng xã huyện Tiên Lãng thường được đặt theo từ Hán - Việt (ví dụ Quang Phục, Cựu Đôi, Lật Dương, Duyên Lão v.v...) và từ Nôm như làng/thôn Vòng, thôn Chàm, thôn Giải, thôn Rỗ, thôn Nêu...

Nhưng xét về nguồn gốc, ý nghĩa, có thể chia làm mấy loại sau đây:

1. Đặt tên theo vị trí địa lý: Ví dụ: Thôn Giang Khẩu (xã Đại Thắng) nghĩa là ở cạnh cửa sông (nghĩa chữ Hán: Giang là sông, khẩu là miệng, cửa); Thôn Đại Độ (xã Tiên Cường) nghĩa là ở nơi có bến đò lớn (Đại là lớn, độ là đò); thôn Lộ Đông (xã Tiên Thắng) nghĩa là ở phía đông đường cái (Lộ là đường cái quan, đông là phía đông), thôn Ngạn (xã Tiên Tiến) nghĩa là thôn ở vị trí giáp bờ sông (Ngạn là bờ)...

2. Đặt tên theo đặc điểm địa hình: Ví dụ: Thôn Bạch Sa (xã Nam Hưng) là ở nơi bãi cát trắng (Bạch là trắng, sa là cát); thôn Lâm Cao (xã Tự Cường) nghĩa là ở khu đất ven đầm, ẩm thấp, cây cối mọc rậm rạp (Lâm là rừng rậm, cao là nơi đất ven đầm ẩm ướt); thôn Hà Đới (xã Tiên Thanh) nghĩa là ở vị trí giải đất ven sông (hà là sông, đới là giải, đai); thôn Thanh Trì (xã Kiến Thiết) là thôn nằm ở vùng trũng, nhiều ao đầm nước trong (thanh là trong xanh, trì là ao)...

3. Đặt tên theo sản vật nổi tiếng của địa phương: Ví dụ: Thôn Xuân Cát là nơi trồng nhiều sắn dây (chữ Hán xuân nghĩa là cây, cát căn nghĩa là bột sắn dây); Thôn Trà Đông nghĩa là nơi có nhiều chè ngon nổi tiếng (trà là chè, đông là thôn/làng Đông); Thôn Phú Kê: Nghĩa đen là thôn nuôi nhiều giống gà quý; nghĩa bóng là nơi con gái sắc xảo, đảm đang (phú là là giàu, nhiều; kê là gà mái); thôn Lãng Liên là thôn có nhiều ao thả sen (liên nghĩa là cây sen)...

4. Tên đặt theo làng nghề truyền thống: Ví dụ Thôn Cẩm La (xã Tự Cường) xưa là làng dệt lụa nổi tiếng (cẩm là đẹp, la là lụa, là); thôn Chàm (xã Tiên Tiến) xưa là làng có nhiều chàm làm nghề nhuộm vải; thôn Sinh Đan (xã Tiên Cường) nổi tiếng với nghề đan lát các loại đồ dùng bằng tre (Sinh là sản xuất, làm; đan là đồ vật dụng bằng tre)

5. Đặt tên do ghép chữ khi sáp nhập đơn vị hành chính: Ví dụ: Thôn Nam Tử (xã Kiến Thiết) ra đời từ sáp nhập 2 làng Hán Nam và An Tử; Thôn Hoàng Đông là từ chữ Đông của thôn Bình Đông ghép với chữ Hoàng của thôn Hoàng Lồ khi hai thôn này sáp nhập; Tương tự Thôn Sa Đống (xã Tự Cường) là từ hai thôn Sa Trung và Đống Táo; thôn Tuần Tiến (xã Kiến Thiết) là từ hai thôn Tuần Lương và Trà Tiến...

6. Đặt tên dựa trên đắc điểm dân cư: Ví dụ: Thôn Kim (xã Vinh Quang), do phần đông là dân Kim Sơn huyện Kiến Thụy sang khai hoang lập ấp, nên bà con lấy tên làng cũ để nhớ về cội nguồn; tương tự, thôn Kỳ cũng là từ dân làng Kỳ Sơn Kiến Thụy sang mở đất lập ra khu dân cư này. Thôn Thái Ninh lại chủ yếu là dân quê gốc Thái Thụy, Thái Bình...

Lại có trường hợp đặt tên là thôn Giáo (thuộc xã Tiên Tiến) là do đa phần bà con nơi đây theo Đạo Ki Tô...

7. Lấy chữ đầu hoặc chữ cuối của huyện hoặc xã đặt tên xã, tên làng: Như tên các xã Tiên Thanh, Tiên Tiến, Tiên Cường, Tiên Minh, Tiên Thắng là lấy chữ đầu của huyện Tiên Lãng ghép với chữ Thanh, Tiến, Cường, Minh, Thắng thành tên xã.

Các trường hợp khác là lấy chữ thứ hai của tên xã đặt cho tên thôn / làng như Xã Đông Hưng có thôn Thái Hưng, Xuân Hưng, Trung Hưng, Thủy Hưng; xã Tây Hưng có các thôn Minh Hưng, Hợp Hưng, Tấn Hưng...

8. Đặt tên theo truyền thuyết: Thôn Duyên Lão (còn gọi là Diên Lão) thuộc xã Tiên Minh ra đời dựa trên truyền thuyết: Xưa vua Trần Nhân Tông tu ở núi Yên Tử một lần trên đường về phủ Thiên Trường (Nam Định ngày nay) qua đây. Các bậc bô lão ra đón tiếp. Phật Hoàng cảm kích khen rằng dân biết lễ (nghĩa là giữ được phép tắc, lễ giáo) đặt cho tên làng là Duyên Lão nghĩa là làng có nhiều người thọ (xưa quan niệm tuổi thọ là thiên tước do trời ban còn trọng hơn cả nhân tước do vua ban).

Để lý giải cặn kẽ, thấu đáo những địa danh làng xã nói trên, các soạn giả (Vũ Minh Đức, Nguyễn Cội, Vũ Đình Trình) không chỉ bằng sự tâm huyết đối với quê hương đã rất dày công sưu tầm tra cứu cả trên điền dã và tài liệu, sách vở thuộc nhiều lĩnh vực lịch sử, địa lý, văn hóa... mà còn phải là người có vốn Hán học vững vàng.

Bên cạnh những giá trị đã được khẳng định của cuốn sách, chúng tôi thấy còn đôi điều xin được bàn thêm cùng các soạn giả:

1. Về tên các xã được đặt sau Cách mạng Tháng tám như: Đại Thắng, Quyết Tiến, Kiến Thiết, Hùng Thắng, Vinh Quang v.v... Những địa danh này ra đời ở thời điểm lịch sử toàn dân tộc sôi sục khí thế đi vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập với khát vọng lớn nhất là kháng chiến, kiến quốc thắng lợi. Vì vậy theo chúng tôi khi nhắc đến các tên xã này không nên tách ra từng từ dẫn giải nghĩa theo nghĩa Hán - Việt (ví dụ Xã Đại thắng giải nghĩa là: “Đại là to lớn, thắng là được; Đại Thắng là mong muốn vùng đất này luôn luôn thắng lợi lớn” (trang 28); hay: “Kiến là xây dựng, Thiết là sắp bày, bày đặt; Kiến thiết là khẩu hiệu hành động muốn thể hiện xây dựng nơi đây to lớn, đẹp đẽ” (trang 116). Bởi trong thực tế những từ này đã được Việt hóa ai cũng có thể hiểu được. Mặt khác, khi đặt tên cho các xã này chắc là cơ quan lãnh đạo lúc ấy cũng không có ý “giải nghĩa” cụ thể như trên. Tương tự các tên thôn / làng lấy từ ghép do hợp nhất mà thành cũng không nên “giải nghĩa” vì lý do trên.

2. Về giải thích ý nghĩa của một số tên làng/ thôn:

- Thôn Tỉnh Lạc: Các soạn giả giải thích: “Tỉnh là giếng, Lạc là rơi xuống, vui vẻ. Vậy Tỉnh Lạc là làng ở giữa vùng đất rộng, dân luôn vui vẻ, có giếng nước trong ngon cho cả làng dùng” (trang 111). Theo chúng tôi chữ Tỉnh Lạc ở đây nên hiểu theo nghĩa Tỉnh là trung tâm, là ở giữa. Bởi ngày trước, phép chia ruộng làm 9 phần; trong đó 8 phần phía Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, Tây Nam là của dân; còn phần ở giữa là của vua gọi là Tỉnh điền. Còn chữ Lạc ở đây không phải là chữ Lạc (còn đọc là nhạc) nghĩa là vui mà là chữ Lạc nghĩa là chỗ ở, nơi dân tụ lại cùng sinh sống tạo thành cộng đồng dân cư (như Bộ lạc). Vậy Tỉnh Lạc có nghĩa là một cụm dân cư nằm ở giữa một vùng đất nào đó.

- Thôn Triều Đông (thuộc thị trấn Tiên Lãng): Các soạn giả giải thích là “Làng ở phía Đông của tổng, nơi có đất triều bãi”. Nếu vậy thì chữ Triều phía trước phải có chấm thủy; nhưng lại viết thiếu thành ra chữ triều nghĩa là triều đình. Giữa chữ viết và lời giải thích không khớp nhau (trang 86).

- Thôn An Dụ (xã Khởi Nghĩa) được giải thích là: “Vùng đất làm ăn phát đạt, giàu có...”. Theo chúng tôi căn cứ vào nghĩa gốc: An là bình yên, Dụ là khuyên bảo nên giải thích là nơi nhân dân khuyên bảo nhau cùng xây dựng cuộc sống bình yên thì phù hợp hơn. 

Đinh Quyền